Hỏi đáp


Chào bạn
Hiện tại, công tác huấn luyện An toàn vệ sinh lao động tại cơ sở sản xuất kinh doanh chủ yếu dựa trên Nghị định 44/2016/NĐ-CP. Ngoài ra, công tác huấn luyện chuyên ngảnh sẽ có thêm một số văn bản khác. Bạn tham khảo danh sách các văn bản sau đây
- Bộ Luật Lao động 2012 Điều 150
- Luật An toàn vệ sinh lao động 2015 Điều 12 - 14
- Nghị định 44/2016/NĐ-CP
- Thông tư 13/2016/TT-BLĐTBXH
- Thông tư 31/2014/TT-BCT: Huấn luyện An toàn điện (chuyên ngành)
- Thông tư 19/2016/TT-BYT: Huấn luyện Sơ cứu, cấp cứu
- Nghị định 113/2017/NĐ-CP: Huấn luyện An toàn hóa chất
- Thông tư 32/2017/TT-BCT: Huấn luyện An toàn hóa chất
- Nghị định 79/2014/NĐ-CP: Huấn luyện nghiệp vụ PCCC, cứu nạn, cứu hộ
- Thông tư 66/2014/TT-BCA: Huấn luyện PCCC
- Nghị định 83/2017/NĐ-CP Về huấn luyện nghiệp vụ cứu nạn, cứu hộ

Trân trọng
Chào bạn,
Câu hỏi bạn có 2 vế
- Thứ nhất về yêu cầu chuyên môn: Theo qui định tại QCVN 25:2015/BLĐTBXH qui định
3.2. Người vận hành (operator): Là người đã được đào tạo, huấn luyện và cấp chứng chỉ về an toàn lao động, vệ sinh lao động; được cấp chứng chỉ vận hành xe nâng hàng và phải chịu trách nhiệm đối với việc chuyển động và nâng hạ tải của xe nâng hàng
Như vậy, nhân viên đó chưa có chứng chỉ vận hành xe nâng hàng là sai qui định

- Thứ 2: Về huấn luyện An toàn lao động
Theo qui định tại Nghị định 44/2016/NĐ-CP và Thông tư 13/2016/TT-BLĐTBXH thì nhân viên này vận hành xe nâng tức là làm công việc nguy hiểm thuộc danh mục phải huấn luyện theo nhóm 3 về An toàn vận hành xe nâng. Như vậy, phần này công ty bạn đã làm đúng theo qui định.
Lưu ý riêng về huấn luyện An toàn hóa chất: Theo Nghị định 113/2017/NĐ-CP thì việc huấn luyện An toàn hóa chất không còn phải thông qua Sở Công thương, bạn chỉ cần tổ chức tự huấn luyện hoặc kết hợp với huấn luyện theo Nghị định 44/2016/NĐ-CP nếu đảm bảo điều kiện giảng viên và nội dung chương trình là được.

Trân trọng
Chào anh/chị

Nghị định 44/2016/NĐ-CP quy định việc tự huấn luyện như sau:

Điều 29. Doanh nghiệp tự huấn luyện an toàn, vệ sinh lao động

1. Người sử dụng lao động có trách nhiệm tổ chức huấn luyện và tự chịu trách nhiệm về chất lượng huấn luyện cho người lao động nhóm 4 theo một trong các hình thức sau đây:

a) Tự tổ chức huấn luyện nếu bảo đảm điều kiện về người huấn luyện theo quy định tại Nghị định này. Cụ thể là đảm bảo các quy định tại Điều 22  và Điều 44 như bên dưới

2. Trình tự xem xét, đánh giá điều kiện hoạt động của doanh nghiệp tự huấn luyện an toàn; vệ sinh lao động được quy định như sau:

a) Doanh nghiệp có nhu cầu tự huấn luyện an toàn, vệ sinh lao động lập 01 bộ hồ sơ chứng minh đủ điều kiện hoạt động như đối với Tổ chức huấn luyện, trừ điều kiện quy định tại Điểm a Khoản 2 Điều 26 của Nghị định này, gửi cơ quan có thẩm quyền theo quy định tại Điều 27 Nghị định này.

b) Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hp lệ, cơ quan có thẩm quyền xem xét, thông báo cho doanh nghiệp về nhng điều kiện chưa bảo đảm theo quy định.

Hết thời hạn 30 ngày, cơ quan có thẩm quyền không có thông báo về việc doanh nghiệp không bảo đảm đủ điều kiện hoạt động huấn luyện thì doanh nghiệp được tự huấn luyện trong phạm vi đã đề nghị.

c) Sau thời hạn 05 năm, kể từ ngày được đánh giá đủ điều kiện hoạt động tự huấn luyện, doanh nghiệp gửi hồ sơ tới cơ quan có thẩm quyền để được xem xét, đánh giá lại điều kiện hoạt động nếu có nhu cầu tiếp tục tự huấn luyện.
Điều 22

1. Huấn luyện nội dung hệ thống pháp Luật an toàn, vệ sinh lao động

Người hun luyện nội dung hệ thống pháp Lut an toàn, vệ sinh lao đng là người có trình độ đại học trở lên, ít nhất 05 năm làm công việc xây dựng chính sách, pháp luật, quản lý, thanh tra, kiểm tra về an toàn, vệ sinh lao động tại cơ quan có chức năng, nhiệm vụ liên quan trực tiếp đến công tác an toàn, vệ sinh lao động.

2. Huấn luyện nội dung nghiệp vụ công tác an toàn, vệ sinh lao động và nội dung kiến thức cơ bản về an toàn, vệ sinh lao động

Người huấn luyện nội dung nghiệp vụ công tác an toàn, vệ sinh lao động và nội dung kiến thức cơ bản về an toàn, vệ sinh lao động là người có trình độ đại học trở lên chuyên ngành kỹ thuật và đáp ứng một trong các tiêu chuẩn sau:

a) Có ít nhất 05 năm làm công việc xây dựng chính sách, pháp luật, quản lý, thanh tra, kiểm tra về an toàn, vệ sinh lao động tại cơ quan có chức năng, nhiệm vụ liên quan trực tiếp đến công tác an toàn, vệ sinh lao động;

b) Có ít nhất 07 năm làm công việc về an toàn, vệ sinh lao động ở đơn vị sự nghiệp, doanh nghiệp và phải tham gia khóa huấn luyện về chuyên môn và nghiệp vụ huấn luyện.

4. Huấn luyện thực hành:

c) Huấn luyện thực hành nhóm 4: Người huấn luyện có trình độ trung cấp kỹ thuật trở lên, phù hợp với chuyên ngành huấn luyện hoặc người có thời gian làm việc thực tế ít nhất 05 năm;

đ) Người huấn luyện thực hành bảo đảm tiêu chuẩn theo quy định tại các điểm a, b và c Khoản này, đồng thời phải tham gia khóa huấn luyện về nghiệp vụ huấn luyện an toàn, vệ sinh lao động hoặc có ít nhất 5 năm làm công việc xây dựng chính sách, pháp luật, quản lý, thanh tra, kiểm tra về an toàn, vệ sinh lao động tại các cơ quan có chức năng, nhiệm vụ liên quan trực tiếp đến công tác an toàn, vệ sinh lao động.
 

Điều 44 khoản ​2
2. Xây dựng chương trình, tài liệu huấn luyện chi tiết trên cơ sở chương trình khung huấn luyện nhóm 4 và tổ chức huấn luyện cho người lao động.

Chào bạn

Vì nội dung huấn luyện của 2 văn bản trên là khác nhau về nội dung, thời gian huấn luyện. Vì vậy, công ty bạn phải tổ chức huấn luyện theo cả 2 văn bản trên. Về cách thức tổ chức, Điều 14 Luật ATVSLĐ qui định việc huấn luyện ATVSLĐ có thể tổ chức riêng hoặc kết hợp với huấn luyện an toàn chuyên ngành nên bạn có thể kết hợp nội dung của 2 qui định trên hoặc tách riêng tùy hteo điều kiện công ty.

Trân trọng
Theo Điều 154 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2015 và Điều 38 Nghị định 34/2016/NĐ-CP)
Văn bản quy phạm pháp luật hết hiệu lực toàn bộ hoặc một phần trong các trường hợp sau đây:
1. Hết thời hạn có hiệu lực đã được quy định trong văn bản;
2. Được sửa đổi, bổ sung hoặc thay thế bằng văn bản quy phạm pháp luật mới của chính cơ quan nhà nước đã ban hành văn bản đó;
3. Bị bãi bỏ bằng một văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền;
4. Văn bản quy phạm pháp luật hết hiệu lực thì văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết thi hành, văn bản đó cũng đồng thời hết hiệu lực.

Chào bạn
Qui định hiện hành về số lượng người làm công tác An toàn vệ sinh lao động tại cơ sở sản xuất - kinh doanh được qui định tại Điều 36 Nghị định 39/2016/NĐ-CP. Cụ thể như sau:
Điều 36. Tổ chức bộ phận an toàn, vệ sinh lao động

Việc tổ chức bộ phận an toàn, vệ sinh lao động theo Khoản 1 Điều 72 Luật An toàn, vệ sinh lao động được quy định như sau:

1. Đối với cơ sở sản xuất, kinh doanh hoạt động trong các lĩnh vực, ngành nghề khai khoáng, sản xuất than cốc, sản xuất sản phẩm dầu mỏ tinh chế, sản xuất hóa chất, sản xuất kim loại và các sản phẩm từ kim loại, sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim, thi công công trình xây dựng, đóng và sửa chữa tàu biển, sản xuất, truyền tải và phân phối điện, người sử dụng lao động phải tổ chức bộ phận an toàn, vệ sinh lao động bảo đảm các yêu cầu tối thiểu sau đây:

a) Cơ sở sản xuất, kinh doanh sử dụng dưới 50 người lao động phải bố trí ít nhất 01 người làm công tác an toàn, vệ sinh lao động theo chế độ bán chuyên trách;

b) Cơ sở sản xuất, kinh doanh sử dụng từ 50 đến dưới 300 người lao động phải bố trí ít nhất 01 người làm công tác an toàn, vệ sinh lao động theo chế độ chuyên trách;

c) Cơ sở sản xuất, kinh doanh sử dụng từ 300 đến dưới 1.000 người lao động, phải bố trí ít nhất 02 người làm công tác an toàn, vệ sinh lao động theo chế độ chuyên trách;

d) Cơ sở sản xuất, kinh doanh sử dụng sử dụng trên 1.000 người lao động phải thành lập phòng an toàn, vệ sinh lao động hoặc bố trí ít nhất 03 người làm công tác an toàn, vệ sinh lao động theo chế độ chuyên trách.

2. Đi với các cơ sở sản xuất, kinh doanh hoạt động trong các lĩnh vực, ngành nghề khác với lĩnh vực, ngành nghề quy định tại Khoản 1 Điều này, người sử dụng lao động phải tổ chức bộ phận an toàn, vệ sinh lao động tại cơ sở bảo đảm các yêu cầu tối thiểu sau đây:

a) Cơ sở sản xuất, kinh doanh sử dụng dưới 300 người lao động, phải bố trí ít nhất 01 người làm công tác an toàn, vệ sinh lao động theo chế độ bán chuyên trách;

b) Cơ sở sản xuất, kinh doanh sử dụng từ 300 đến dưới 1.000 người lao động, phải bố trí ít nhất 01 người làm công tác an toàn, vệ sinh lao động theo chế độ chuyên trách;

c) Cơ sở sản xuất, kinh doanh sử dụng sử dụng trên 1.000 người lao động, phải thành lập phòng an toàn, vệ sinh lao động hoặc bố trí ít nhất 2 người làm công tác an toàn, vệ sinh lao động theo chế độ chuyên trách.

Như vậy, bạn cần đối chiếu xem công ty của bạn thuộc lính vực nào và dựa qui định này để bố trí số lượng cho phù hợp

Trân trọng

Về nội dung này, có thể chia thành 4 trường hợp khác nhau như sau:
Trường hợp 1: Người sử dụng lao động giới thiệu và tỷ lệ suy giảm dưới 5% thì người sử dụng lao động phải trả (điểm b khoản 2 Điều 38 Luật ATVSLĐ: "Trả phí khám giám định mức suy giảm khả năng lao động đối với những trường hợp kết luận suy giảm khả năng lao động dưới 5% do người sử dụng lao động giới thiệu người lao động đi khám giám định mức suy giảm khả năng lao động tại Hội đồng giám định y khoa"
)

Trường hợp 2: Người sử dụng lao động giới thiệu và tỷ lệ suy giảm trên 5%: Quỹ Bảo hiểm TNLĐ-BNN sẽ thanh toán phí giám định (Khoản 1 Điều 42 Luật ATVSLĐ “Trả phí khám giám định thương tật, bệnh tật do tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp đối với các trường hợp đủ điều kiện hưởng theo quy định tại Điều 45 và Điều 46 của Luật này”

Trường hợp 3: NLĐ chủ động đi giám định và tỷ lệ suy giảm đủ điều kiện điều chỉnh mức tăng hướng trợ cấp TNLĐ-BNN: Bảo hiểm TNLĐ-BNN chi trả (Khoản 1 Điều 42 Luật ATVLĐ “trả phí khám giám định đối với trường hợp người lao động chủ động đi khám giám định mức suy giảm khả năng lao động theo quy định tại điểm b khoản 1 và khoản 3 Điều 47 của Luật này mà kết quả khám giám định đủ điều kiện để điều chỉnh tăng mức hưởng trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp)

Trường hợp 4: NLĐ chủ động đi giám định và kết quả không thay đổi: NLĐ tự trả (loại suy từ các trường hợp trên)